Sáng 26/5, Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Quốc hội Nguyễn Văn Thuận đọc Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật nuôi con nuôi. Tiếp đó các đại biểu tập trung thảo luận ở hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật này. Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu điều khiển phiên họp.
Sau khi đại biểu Nguyễn Văn Thuận - Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật, đọc Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật nuôi con nuôi. Các đại biểu Quốc hội tập trung thảo luận 4 nhóm vấn đề sau: về đối tượng, độ tuổi và điều kiện để được nhận làm con nuôi, điều kiện đối với người nhận con nuôi, về lệ phí đăng ký nuôi con nuôi, chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài; hỗ trợ nhân đạo cho việc chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; về nuôi con nuôi ở khu vực biên giới; về thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài,
Đại biểu Nguyễn Minh Hồng - Nghệ An có ý kiến: Điều 4, nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi ở Khoản 3 có ghi: "chỉ cho làm con nuôi nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế trong nước". Ở điều này tôi thấy có hai vấn đề xảy ra. Việc làm con nuôi, quyền nhận con nuôi và làm con nuôi là xuất phát từ tình cảm con người với con người, đã là con người với con người thì dù nước ngoài hay người trong nước, đều mang tình cảm như nhau, không có lý gì chỉ có người trong nước không ai nuôi thì mới cho người nước ngoài. Cũng có người nói với tôi rằng người nước ngoài nuôi rủi ro cho con nuôi hơn người trong nước, điều này chưa hẳn như vậy. Trong thực tế đã có con em được người nước ngoài nuôi nay đã trở thành chính khách có tên tuổi trên thể giới. Khoản 3 này còn mâu thuẫn với Khoản 2 của Điều 4 là việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền tự nguyện và bảo đảm quyền lợi. Vậy thử hỏi khi một đứa trẻ tự nguyện, bình đẳng nhận người nước ngoài làm cha mẹ nuôi vậy có cần phải chờ đến lúc khi không còn gia đình thay thế trong nước hay không. Vậy Khoản 3 của Điều 4 theo tôi chưa hợp lý và còn mâu thuẫn.
Trong khi đó, đại biểu Hoàng Thương Lượng - Yên Bái cho rằng: Về quan điểm của Luật nuôi con nuôi thì cần có sự ưu tiên giải quyết cho trẻ em làm con nuôi trong nước. Việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài chỉ là biện pháp cuối cùng. Tại Điều 13 nêu các hành vi cấm có 7 hành vi cơ bản tôi đồng tình nhưng riêng đối với Khoản 6 là "cấm ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh chị em nhận nhau làm con nuôi". Theo tôi nếu có quy định như vậy thì cũng cần phải rõ ràng hơn là "cấm việc ông bà nhận cháu ruột hoặc anh, chị, em ruột nhận nhau làm con nuôi". Ở đây tôi lưu ý là cháu ruột và anh, chị, em ruột.
Bên cạnh đó trên thực tế lâu nay hành vi này đã và vẫn đang được diễn ra một cách bình thường và khá phổ biến đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi. Hành vi này vẫn có thể tiếp tục diễn ra ngay cả khi Luật có hiệu lực thi hành. Khi Luật có hiệu lực thì Chính phủ có nghị định thực hiện cũng còn xem xét một cách hợp lý để điều chỉnh đối với hành vi nêu trên.
Tại Điều 42, nuôi con nuôi ở khu vực biên giới, đây là vấn đề nhạy cảm liên quan đến thực tế đã và sẽ tiếp tục diễn ra, liên quan đến mối quan hệ về họ tộc, dân tộc, thân tộc của đồng bào dân tộc thiểu số có chung đường biên giới với Việt Nam. Thống nhất Luật nuôi con nuôi không nêu chi tiết giao cho Chính phủ quy định cụ thể việc nuôi con nuôi ở khu vực biên giới. Tuy nhiên, Chính phủ cần có những quy định để về phía Việt Nam có quyền chủ động giải quyết nuôi con nuôi ở khu vực biên giới. Chính phủ cần sớm đàm phán ký kết với các nước láng giềng có được những điều ràng buộc, quy định thống nhất giữa các nước láng giềng có biên giới với Việt Nam trong việc giải quyết nuôi con nuôi ở khu vực biên giới liên quan người nước láng giềng nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi và người Việt Nam ở biên giới nhận trẻ em nước láng giềng làm con nuôi.
Đại biểu Nguyễn Thị Kim Thuý (đoàn Đà Nẵng) đồng ý với Điều 12 của dự thảo Luật Nuôi con nuôi quy định, người nhận nuôi con nuôi phải nộp lệ phí đăng ký nuôi con nuôi. Người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam nhận con nuôi là người Việt Nam phải trả một khoản tiền để bù đắp một phần chi phí cho việc giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài.
Tuy nhiên, theo đại biểu Nguyễn Thị Kim Thuý, Luật cần quy định chi tiết thẩm quyền thu, mức thu, việc miễn, giảm và chế độ quản lý, sử dụng chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài. Vấn đề này là vô cùng nhạy cảm nên cần có quy định chặt chẽ và rõ ràng, minh bạch về tài chính để tránh diễn ra tình trạng buôn bán trẻ em.
Đồng ý với quan điểm này, đại biểu Phan Thị Thu Hà (đoàn Đồng Tháp) nêu ý kiến: Lệ phí đăng ký nuôi con nuôi, chi phí giải quyết nuôi con nuôi nên được giới thiệu, trưng bày ở các tổ chức Việt Nam ở nước ngoài để người nước ngoài biết rõ các quy định, điều lệ khi nhận người Việt Nam làm con nuôi.
Đại biểu Nguyễn Minh Thuyết (đoàn Lạng Sơn) cho rằng: Không nên quy định trong Luật vấn đề nuôi con nuôi ở khu vực biên giới, bởi vì trên thực tế cho đến nay, chưa có trường hợp nào được đăng ký. Ngoài ra, nuôi con nuôi ở khu vực biên giới là vấn đề phức tạp, liên quan đến một số nước có chung đường biên giới với nước ta, liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo, phong tục của đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là việc thực hiện chính sách, pháp luật về dân số của Việt Nam cũng như của các nước láng giềng.
Thay mặt Ban soạn thảo, đại biểu Hà Hùng Cường tiếp thu ý kiến của nhiều đại biểu Quốc hội phát biểu báo cáo thêm với Quốc hội một số vấn đề để Quốc hội xem xét cân nhắc thêm trong quá trình xem xét thông qua dự án luật này.
Nhìn chung các vị đại biểu Quốc hội thảo luận sáng nay đều nhất trí với Báo cáo giải trình, tiếp thu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các nội dung chính của dự án luật.
Qua 27 đại biểu đăng ký và 22 ý kiến đã phát biểu, các vị đại biểu Quốc hội cũng nêu rất nhiều ý kiến góp ý cho những điều cụ thể của dự án luật này. Thay mặt Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc Hội Uông Chu Lưu nhấn mạnh thêm một số ý như sau:
Về đối tượng, điều kiện để nhận nuôi con nuôi ở Điều 14, chúng tôi đề nghị với các cơ quan nên nghiên cứu, tiếp thu ngoài quy định về khoảng cách tuổi giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi chúng ta quy định là 20 tuổi, cũng cần quy định thêm cả tuổi mà có thể được nhận con nuôi như quy định pháp luật của một số nước. Ở đây cũng có đại biểu nêu nên quy định độ tuổi đó là 25 tuổi chẳng hạn. Cân nhắc số lượng con nuôi có phải là không hạn chế hay quy định chỉ nên 1 đến 2 con để có điều kiện chăm sóc, nuôi dạy và bảo vệ tốt hơn người con nuôi và phù hợp với chủ trương chung của Luật hôn nhân và gia đình. Chỗ này trong Tờ trình và trong Báo cáo giải trình, tiếp thu nói là chính sách gia đình nếu vấn đề một, hai con đúng là đối với chính sách dân số, nhưng riêng đối với việc nuôi con nuôi thì tuỳ thuộc và khả năng hoạt động cụ thể của người nhận con nuôi đó. Bây giờ chúng ta nói chỉ hạn chế một, hai con như chính sách dân số thì không phù hợp.
Vấn đề thứ hai, về các hành vi bị cấm ở Điều 13, có nhiều đại biểu đề nghị nếu làm rõ hơn, cụ thể hơn và bổ sung thêm một số hành vi như cấm đặt ra các thủ tục giấy tờ, trì hoãn gây khó khăn cho việc nuôi con nuôi để trục lợi, nhất là đối với nuôi con nuôi nước ngoài hoặc lợi dụng nuôi con nuôi để thu các loại phí, lệ phí. Tại Khoản 1, Điều 13 chúng ta đã có quy định nghiêm cấm việc lợi dụng nuôi con nuôi, có thể cụ thể hoá điều này ra theo ý của đại biểu Quốc hội cho rõ.
Vấn đề tiếp theo mà đại biểu Quốc hội quan tâm là Điều 23 về thông báo tình hình phát triển của con nuôi và theo dõi về con nuôi, ở đây có ý đề nghị cân nhắc việc 3 năm, sau 3 năm hay ngay từ khi có việc nhận con nuôi thì người và cơ quan tổ chức nuôi con nuôi nước ngoài phải có trách nhiệm thông báo cho cơ quan con nuôi trong nước và thông báo cho gia đình của Việt Nam trong nước. Cân nhắc cả ý là nên quy định trách nhiệm cho Bộ Ngoại giao thông qua cơ quan đại diện ở nước ngoài để theo dõi vấn đề này. Cũng đề xuất vấn đề là nên có hình thức ký quỹ để bảo đảm việc thực hiện những quy định ở Điều 23. Đây là những vấn đề chúng tôi sẽ nghiên cứu, tiếp thu và báo cáo lại với Quốc hội.
Về hệ quả của việc nuôi con nuôi, có ý kiến nói rằng bây giờ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi đúng là có phát sinh nghĩa vụ nhưng đối với các thành viên trong gia đình, nhất là vấn đề về thừa kế chẳng hạn thì có nên quy định trong này hay không. Có đại biểu Quốc hội đã đọc điều của Bộ luật dân sự trong đó quy định không phân biệt giữa con nuôi và con đẻ. Ở đây xin giữ Điều 24.
Điều 25, căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi, có nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị nên nêu cụ thể hơn và rõ hơn, chúng tôi xin tiếp thu để đưa vào dự thảo luật.
Điều 26, về tổ chức, cá nhân có quyền chấm dứt việc nuôi con nuôi, đại biểu đề nghị thêm Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban chấp hành Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, không nên quy định tổ chức của lao động, thương binh, xã hội. Đây là những vấn đề chúng tôi sẽ nghiên cứu tiếp thu để báo cáo lại với đại biểu Quốc hội./.